12:29 EDT Chủ nhật, 28/05/2017

Trang chủ » Tin tức - Sự kiện » Giám sát - Giám sát nhanh bằng công nghệ viễn thám

Ứng dụng ảnh vệ tinh SPOT-5 thành lập bản đồ chất lượng nước mặt vùng cửa sông ven biển khu vực Quảng Ninh - Hải Phòng

Thứ sáu - 05/12/2014 20:46
 
            Hiện nay, môi trường nước tại các vùng cửa sông ven biển đang có dấu hiệu bị ô nhiễm do ảnh hưởng của các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt. Vùng cửa sông ven biển khu vực Quảng Ninh–Hải Phòng là vùng có tiềm năng phát triển kinh tế và bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái cửa sông ven biển. Theo phương pháp truyền thống, mức độ ô nhiễm nước mặt ở vùng cửa sông ven biển được xác định thông qua một số các trạm quan trắc. Vì số lượng các trạm quan trắc bị hạn chế nên việc đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường nước ở khu vực này khá khó khăn.
Ngày nay, công nghệ viễn thám được phát triển và ứng dụng rộng rãi vào các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực môi trường nước. Kết hợp sử dụng tư liệu ảnh viễn thám và số liệu quan trắc, chúng ta chiết suất được các thành phần ô nhiễm trong nước và đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường nước mặt một cách nhanh chóng trên phạm vi rộng lớn, đảm bảo tính khách quan. Kết quả sử dụng ảnh vệ tinh Spot 5 khu vực Quảng Ninh – Hải Phòng, chúng tôi đã chiết suất được các thành phần ô nhiễm BOD, COD và TSS có độ chính xác với sai số trung phương, sai số tuyệt đối trung bình và sai số tuyệt đối trung bình theo % , tương ứng là ±4.37(mg/l), 3.86(mg/l), 27%; ±55.32(mg/l), 48.30(mg/l), 14%; và  ±32.90(mg/l), 23.38(mg/l), 28%; đảm bảo tính khách quan trong đánh giá mức độ ô nhiễm nước mặt vùng cửa sông ven biển. Với kết quả khả quan mà chúng tôi thu nhận trên đây cho thấy tiện ích của công nghệ viễn thám ứng dụng trong giám sát Tài nguyên và Môi trường liên quan đến Nước-Không khí-Đất.
 
I. Đặt vấn đề
Ô nhiễm môi trường nước-không khí-thực phẩm là vấn đề nóng, đặc biệt ở những nước đang phát triển như nước ta hiện nay. Vấn đề bảo vệ môi trường đã được đề cập trong Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7, khóa XI, thông qua vào đầu tháng 6 năm 2013: “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” (số 24-NQ/TW).
Nghị quyết đã đưa ra mục tiêu cụ thể đến năm 2020 về bảo vệ môi trường: “Không để phát sinh và xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; 70% lượng nước thải ra môi trường lưu vực các sông được xử lý;... Phấn đấu 95% dân cư thành thị và 90% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh… Nâng cao chất lượng môi trường không khí ở các đô thị, khu vực đông dân cư. Cải thiện rõ rệt môi trường làng nghề và khu vực nông thôn”.
Vùng cửa sông ven biển Quảng Ninh – Hải Phòng là một trong những khu vực bị tác động mạnh bởi các hoạt động sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, nước thải sinh hoạt và các hoạt động tự nhiên. Hệ số ô nhiễm dầu trong trầm tích tăng từ 0,7 (năm 2001) lên 2,4 (năm 2008). Ô nhiễm đục nước đứng thứ hai sau ô nhiễm dầu. Gần đây ảnh hưởng đục của nước ven bờ tăng lên rõ ở khu vực bãi tắm, ảnh hưởng xấu tới du lịch và làm chết san hô, giảm năng suất sơ cấp thực vật nổi do hạn chế quang hợp. Chỉ tính riêng sông Cấm từ năm 1960 đến năm 1992, lưu lượng nước tăng bình quân hàng năm từ 1 km3/năm lên 12,9 km3/năm và hàm lượng phù sa tăng từ 20 g/m3 lên 340 g/m3. Nhu cầu ôxy sinh- hoá (BOD) khá cao (13,6 đến 31 mg/l), chỉ số vi sinh (coliform) qua khảo sát đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép.
Cùng với những chính sách và nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường, chúng ta cần đưa những tiến bộ khoa học vào xử lý ô nhiễm môi trường; trước hết cần nghiêm ngặt giám sát môi trường nhờ các công nghệ tiên tiến. Trong lĩnh vực môi trường nước, công nghệ Viễn thám được coi là giải pháp phản ánh thực trạng khách quan trên quy mô diện rộng. Công nghệ Viễn thám vệ tinh đã được thế giới áp dụng từ nhiều năm nay, từ những năm 70-80 của kỷ nguyên trước, khi ảnh Landsat và Spot xuất hiện trên thị trường (Verdin J. 1985; Lathrop R. G., Lillesand T. M., 1989). Bước sang những năm đầu của kỷ nguyên 21, không chỉ những nước sở hữu vệ tnh mới ứng dụng vào giám sát chất lượng nươức mặt mà nhiều nước khác cũng đã ứng dụng công nghệ viễn thám (Pasterkamp R., et al. 2000; Richie J. C., et al., 2003; Yuan-Fong Su, et al., 2008; Keiser M., et. al., 2008; Manchino G., et al., 2009). Ảnh vệ tinh quang học có độ phân giải không gian rất cao như Worldview-2 (dưới 0,5m cho kênh toàn sắc và 2,0m cho kênh đa phổ) đã được nghiên cứu để giám sát chất lượng nước trong lục địa và dải ven bờ biển (Liew S. C., Saengtuksin B., Kwoh L. K., 2011).
Kết quả khảo sát dưới đây của chúng tôi trong dự án “Sử dụng công nghệ viễn thám và GIS xây dựng cơ sở dữ liệu thành lập bản đồ diễn biến vùng ô nhiễm nguồn nước thải từ các khu công nghiệp, đô thị nhằm đưa ra cảnh báo các vùng có nguy cơ ô nhiễm thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc” (do Trung tâm viễn thám quốc gia nay là Cục Viễn thám quốc gia thực hiện theo Quyết định số 977/QĐ-BTNMT ngày 02 tháng 06 năm 2011) cho thấy với việc sử dụng ảnh vệ tinh Spot5, cũng như trong tương lai gần sử dụng ảnh vệ tinh VNRedsat-1 của Việt Nam, chúng ta có điều kiện chủ động giám sát chất lượng nước mặt của những dòng hợp lưu sông, hồ, cửa biển. Sử dụng ảnh vệ tinh Spot-5 ngày 23 tháng 10 năm 2010 khu vực Quảng Ninh – Hải Phòng chúng tôi đã chiết suất được các thành phần ô nhiễm BOD (Bio-Chemical Oxygen Demand), COD (Chemical Oxygen Demand) và TSS (Total Suspended Solid) có độ chính xác với sai số trung bình tương đối và sai số trung phương, tương ứng là 3.84%, ±4.37(mg/l); 0.01%, ±55.32(mg/l); 0.01%, ±32.90(mg/l);. Hệ số tương quan R giữa thành phần ô nhiễm BOD, COD và TSS từ mô hình viễn thám và từ số liệu phân tích mẫu nước lấy từ thực địa, tương ứng là 0.74, 0.84, 0.91.
 
II. Cơ sở khoa học và công nghệ
II.1. Bức xạ đối tượng nước và tính chất quang học cố hữu (bất biến) của nó
            Sử dụng thiết bị chuyên dụng phổ kế tiến hành đo bức xạ trực tiếp đối tượng nước ở ngoài thực địa. Theo định nghĩa của Mobley, 1999, giá trị phản xạ viễn thám Rrs được xác định bằng tỷ số:
                                                                                              (1)
Trong đó: Lw là bức xạ rời khỏi mặt nước. Ed  là bức xạ (từ mặt trời, bầu trời - hay bức xạ nguồn sáng) đi tới mặt nước. Bức xạ nguồn sáng đi tới mặt nước, vẫn theo nghiên cứu của Mobley, 1999, có giá trị:
                            (2)
Trong đó: Ld là bức xạ phổ đo được, Rp là tham số phản xạ, λ- kênh ảnh ứng với bước sóng tương thích. Giá trị bức xạ phổ ở trên mặt nước (above-water radiance) Lu là tổng bức xạ rời khỏi mặt nước Lw và bức xạ phản xạ bề mặt nước Lr, nghĩa là
     và                   (3)
Với k là tham số tỷ lệ giữa bức xạ bầu trời Ls và bức xạ phản xạ trực tiếp từ bề mặt nước Lr. Bức xạ rời khỏi mặt nước có dạng:
                                                                      (4)
Giá trị k phụ thuộc vào nhiều yếu tố môi trường khí quyển. Cho trường hợp sử dụng ảnh vệ tinh quang học như SPOT, Landsat, vv giá trị này phụ thuộc vào bước sóng của từng kênh ảnh. Mô tả ba thành phần bức xạ đi về đầu thu được thể hiện trên hình 1.

Hình 1. Ba thành phần bức xạ đi về đầu thu: Ls – bức xạ bầu trời;
      Lr - bức xạ phản xạ bề mặt nước; Lw - bức xạ rời khỏi mặt nước
            Phản xạ viễn thám định nghĩa bằng phương trình (1) có mối liên quan hữu cơ với phản xạ nội hàm Fresnel ρ, phản xạ Fresnel trên bề mặt giao diện không khí-nước, hệ số khúc xạ của nước n, phản xạ trên mặt nước-không khí ; đồng thời là hàm số của hệ số hấp thụ của nước a và hệ số tán xạ của nước bb, với hệ số quan hệ f, được mô tả bằng biểu thức (Gordon, Brown, &Jacobs, 1975; Morel & Gentili, 1993):
                                                                                       (5)
Trong đó Q = Eu(0-)/Lu(0-), với Eu(0-) là năng lượng bức xạ đi lên từ độ sâu bằng 0 (ký hiệu 0-) hay từ bề mặt nước; Lu(0-) – xem biểu thức (3).
 
II.2. Bức xạ gián tiếp đối tượng nước quan trắc bằng viễn thám vệ tinh
Ảnh viễn thám quang học nói chung, ảnh Spot nói riêng để đưa vào sử dụng cần tiến hành hiệu chỉnh ảnh hưởng môi trường khí quyển. Trước hết từ ảnh gốc cần biến đổi giá trị lượng tử hóa DN về ảnh phản xạ ở đỉnh khí quyển (TOA), R*. Tiếp theo, sử dụng mô hình hiệu chỉnh khí quyển (Vermote, Tanre, Deuze, Herman, & Morcrette, 1997), biến đổi từ ảnh phản xạ ở TOA về phản xạ bề mặt (đất). Phản xạ R* liên quan với đối tượng nước, cụ thể là phản xạ rời khỏi mặt nước Rw thông qua biểu thức:
                                                                                            (6)
Trong đó Ra and Rr là phản xạ sol-khí và phản xạ Rayleigh; Tg and Td là tham số truyền dẫn và khuyếch tán bức xạ trong khí quyển.
            Cuối cùng phản xạ viễn thám được tính theo mối quan hệ:
                                            (7)
Với S – albedo (suất phân chiếu) bầu trời.
            Từ các phương trình (7), (5) và (1) chúng ta nhận thấy phản xạ viễn thám xác định từ tư liệu ảnh viễn thám tuân theo quy luật khách quan khi có sự tương tác của ánh sáng vào đối tượng nước.
 
II.3. Xác định các thành phần ô nhiễm nước mặt
Để thành lập bản đồ phân bố không gian của các biến chất lượng nước (thành phần ô nhiễm nước mặt) bằng sử dụng ảnh viễn thám, trước tiên cần thiết lập mô hình ước lượng chất lượng nước dựa trên phản xạ rời khỏi bề mặt nước. Một số mô hình hồi quy thường được sử dụng [2-6, 10-13, 15] có thể tóm tắt ở 4 dạng cơ bản sau:
                   (9)
Trong đó: Y là biến số chất lượng nước và Xi là phản xạ rời khỏi mặt nước của một dải quang phổ cụ thể.
            Khi xây dựng mô hình, mấu chốt là cần phản ánh đúng, mang tính khách quan mà không phụ thuộc vào sự áp đặt ý thức của con người về mối quan hệ hữu cơ giữa các biến chất lượng nước với phản xạ rời khỏi bề mặt nước, như trình bầy trong mục 2.1 và 2.2. Giải quyết điều này chính là bản chất đúng đắn của công nghệ. Nhằm thực hiện được mục tiêu đó cần thực hiện 2 nội dung:
-   Tìm mối quan hệ tồn tại khách quan giữa biến chất lượng nước với phản xạ rời khỏi bề mặt nước.
-   Lựa chọn mô hình thích hợp để lập bản đồ chất lượng nước.
Công cụ hữu hiệu để giải quyết công nghệ nêu trên là dựa vào lý thuyết hàm hồi quy với việc xử lý và tổ hợp ảnh ở mức cao.
 
III. Kết quả, đánh giá
III.1. Tư liệu sử dụng
a) Tư liệu ảnh vệ tinh
Tư liệu ảnh vệ tinh sử dụng là hai ảnh vệ tinh Spot 5 và các thông số của hai ảnh được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1: Các thông số của ảnh vệ tinh Spot 5
Thông số của ảnh Ảnh 1: 272-308 Ảnh 2: 272-309
Ngày thu nhận ảnh 23-10-2010 23-10-2010
Giờ (GMT) 03:22:47 03:22:55
Góc tới -21.528744 0 -21.5289840
Góc nhìn -18.945236 0 -18.9452360
Góc phương vị mặt trời 148.9165740 148.4567820
Góc cao mặt trời 52.9826170 53.3701440
Độ phân giải 10 m 10 m
 
b) Dữ liệu bản đồ: Dữ liệu bản đồ sử dụng là bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 25000 khu vực Quảng Ninh-Hải Phòng.
c) Số liệu một số thành phần chất lượng nước phân tích từ mẫu nước thực địa
Số liệu thực địa sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm: số liệu GPS đo đạc tại 9 điểm quan trắc lưu động trong khu vực nghiên cứu; đồng thời lấy mẫu nước tại 9 điểm đó để phân tích một số thành phần chất lượng nước trong phòng thí nghiệm. Kết quả phân tích mẫu nước, chúng tôi sử dụng 3 thành phần COD, BOD, TSS (bảng 2, cột 2) để xây dựng mô hình cho toàn khu vực từ ảnh Spot-5.

Hình 2. Ảnh tổ hợp màu giả của ảnh SPOT5 và các điểm quan trắc (màu vàng)
 
III.2. Ảnh phân bố hàm lượng chất ô nhiễm nước mặt chiết xuất từ ảnh vệ tinh Spot 5
Công việc trước tiên là bước hiệu chỉnh bức xạ ảnh do khí quyển, nhằm loại bỏ các tín hiệu nhiễu ảnh hưởng tới bức xạ rời khỏi mặt nước, đã được đề cập ở mục II.
Để chiết xuất các ảnh phân bố hàm lượng chất ô nhiễm nước mặt từ ảnh vệ tinh Spot 5, chúng tôi xây dựng các hàm quan hệ giữa giá trị ảnh phản xạ sau khi hiệu chỉnh khí quyển và số liệu các thành phần chất ô nhiễm ở các trạm quan trắc.
Kết quả hàm lượng các chất ô nhiễm được chiết xuất từ ảnh dựa vào số liệu phân tích mẫu nước lấy từ thực địa thông qua các hàm quan hệ sau:
- Chất ô nhiễm BOD:
BOD = 101.0339*FB-0.0375   với hệ số tương quan (R = 0.736)
Trong đó: FB là ảnh tổ hợp lớp cao từ các kênh ảnh Spot-5
- Chất ô nhiễm COD:
COD = 1.0331*FC-11.245 với hệ số tương quan (R = 0.843)
Trong đó: FC là ảnh tổ hợp lớp cao từ các kênh ảnh Spot-5).
- Chất ô nhiễm TSS:
TSS = 1.0319*FT-2.6409     với hệ số tương quan (R = 0.914)
Trong đó: FT là ảnh tổ hợp lớp cao từ các kênh ảnh Spot-5.
            Nhằm đánh giá ba mô hình xây dựng trên đây, chúng tôi tiến hành xác định sai số trung phương (SSTP) và sai số tuyệt đối trung bình (SSTyĐTB), đồng thời tính hệ số tương quan giữa số liệu thực địa và số liệu chiết xuất từ mô hình và chỉ số hiệu quả mô hình ME (Modelling Efficiency). Kết quả đánh giá được ghi ở bảng 2.
Từ ảnh chất ô nhiễm BOD, COD, TSS xuất sang ArcGIS để phân tầng chất ô nhiễm và thành lập bản đồ. Sáu mảnh bản đồ của 3 thành phần là BOD, COD, TSS đã được thành lập. Hình 3 gới thiệu 3 mảnh bản đồ và một góc phóng to của 3 thành phần chất ô nhiễm nêu trên.
 
Bảng 2: Độ chính xác xây dựng mô hình thành phần COD, BOD, TSS  dựa vào số liệu phân tích mẫu nước thực địa tại các điểm quan trắc (đơn vị: mg/l)
Trạm
 Đo
Số liệu thực địa (M) Mô hình thành phần (MAH) dM = M - MAH
 
(1)
(2) (3) (4)
COD BOD TSS COD BOD TSS COD BOD TSS
A A-TB B B-TB C C-TB
1 420  84.2 19.7 5.4 23 -61.8 388.97 15.23 61.70 31.03 4.47 -38.69
2 418 82.2 12.6 -1.7 18 -66.8 425.29 19.72 1.15 -7.28 -7.11 16.84
3 346.5 10.7 16.7 2.4 16 -68.8 441.44 17.64 27.32 -94.94 -0.94 -11.32
4 125 -210.8 16.7 2.4 16 -68.8 178.55 18.83 14.50 -53.54 -2.13 1.49
5 504 168.2 3.7 -10.6 241 156.2 426.04 6.29 235.29 77.96 -2.59 5.70
6 327 -8.8 20.8 6.5 16 -68.8 339.09 17.67 29.20 -12.08 3.13 -13.19
7 253 -82.8 16.7 2.4 179 94.2 302.54 10.78 102.60 -49.54 5.92 76.4
8 332 -3.8 7.2 -7.1 135 50.2 270.62 9.32 130.24 61.37 -2.12 4.76
9 297 -38.8 14.9 0.6 119 34.2 250.00 8.56 160.99 46.99 6.34 -41.99
TB 335.8 14.3 84.8 335.84 13.78 84.78 -0.005 0.55 -0.001
  SSTP*
SSTĐTB**
SSTĐTB(%)***
          55.32
48.30
14%
4.37
3.86
27%
32.90
23.38
28%
  Chỉ số hiệu quả mô hình (ME)
 
H/S tương quan R
0.733
 
0.843
0.352
 
0.736
0.933
 
0.914
     
    *- Sai số trung phương; **- Sai số tuyệt đối trung bình;  ***- Sai số tuyệt đối trung bình tính theo %
 
IV. Bàn luận
Sau đây là một số nhận xét từ kết quả nghiên cứu ở bảng 2:
- Hệ số tương quan giữa mô hình xây dựng các thành thành COD, BOD, TSS với số liệu thành phần mẫu thực địa có giá trị tương ứng là 0.84, 0.74 và 0.91. Điều này thể hiện: mô hình xây dựng theo quy trình trên đây phản ánh khách quan sát với thực tế, đạt tới 84%, 74% và 91%; hay có thể nói: Mô hình xây dựng thành phần COD, BOD, TSS từ ảnh Spot-5 với một số ít điểm có mẫu phân tích nước từ thực địa có thể thay thế phần lớn công việc ngọai nghiệp đánh giá ô nhiễm môi trường nước mặt ở cửa sông ven biển với “độ tin cậy” đạt tới 84%, 74% và 91%.
- Theo số liệu thực địa từ phân tích mẫu nước cho thấy: Thành phần COD có hàm lượng khá cao từ 125-504 mg/l; trong khi đó BOD giao động nhẹ từ 3.7-20.8 mg/l; nhưng biến thiên của TSS tương đối lớn từ 16-241mg/l.
- Từ sai số thực (cột 4 bảng 2), sai số trung phương (SSTP) và sa số tuyệt đối trung bình của BOD, COD và TSS được tính, có giá trị tương ứng bằng ±4.37(mg/l), 3.84(mg/l); ±55.32(mg/l), 48,30(mg/l); và ±32.90(mg/l), 23.38(mg/l). Giao động giữa hai loại sai số này của BOD và COD tương đối nhỏ, trong khi đó của TSS là lớn. Điều này phản ánh tính bền vững của mô hình TSS kém hơn một chút so với tính bền vững của mô hình BOD, COD

Một góc ảnh phóng to

Một góc ảnh phóng to

Một góc ảnh phóng to
Hình 3. Bản đồ và ảnh phóng to các thành phần BOD, COD, TSS khu vực cửa sông ven biển Quảng Ninh – Hải Phòng
 
 
- Sai số tuyệt đối trung bình tính theo % (so với trị trung bình thực địa) của COD, BOD, TSS có giá trị tương ứng là 14%, 27%, 28%. Qua đây cho thấy các mô hình xác định COD, BOD, TSS cho độ chính xác đạt từ 72% đến 86% so với quan trắc ngoại nghiệp.
- Chỉ số “hiệu quả mô hình” (ME) của BOD, COD, TSS tương ứng bằng 0.352, 0.733 và 0.933 cho thấy mô hình BOD xây dựng có hiệu quả thấp. Điều này có thể giải thích vì trị thực của BOD nhỏ, biến thiên từ 3.7(mg/l) đến 20.8 (mg/l).
Từ bản đồ phân bố hàm lượng thành phần ô nhiễm BOD, COD và TSS khu vực cửa sông ven biển Quảng Ninh – Hải Phòng và theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5945-2005 về nước thải công nghiệp và tiêu chuẩn thải, ta thấy:
- Thành phần ô nhiễm BOD: Nhìn chung khu vực chưa bị ô nhiễm BOD vì nồng độ BOD chỉ giao động trong khoảng từ 0 – 28 (mg/l).
- Thành phần ô nhiễm COD: Khu vực này có nồng độ COD tương đối cao, tới hơn 500 (mg/l), vượt tiêu chuẩn cho phép. Một số điểm có nồng độ cao như ở cửa Lạch Huyền, cửa sông Hòn Dấu...
- Thành phần ô nhiễm TSS: Khu vực này có hàm lượng chất lơ lửng cũng tương đối cao, tới hơn 260 (mg/l), vượt tiêu chuẩn cho phép. Một số điểm có nồng độ cao như ở cửa Nam Triệu, cửa sông Cấm, cửa sông Lạch Tray…
           
V. Kết luận
            Kết quả khảo sát với ứng dụng ảnh vệ tinh Spot 5 cho thấy tính ưu việt của công nghệ về quy mô giám sát trên khu vực rộng. Mô hình xây dựng các thành phần chất lượng nước COD, BOD, TSS từ ảnh cần có sự hỗ trợ của các số liệu thực địa với hệ số tương quan trong nghiên cứu này là 0.74, 0.84 và 0.91. Sai số trung phương (SSTP) và sai số tuỵêt đối trung bình (SSTĐTB %) của BOD, COD và TSS được tính, có giá trị tương ứng bằng ±4.37(mg/l), 14%; ±55.32(mg/l), 27%; ±32.90(mg/l), 28%.
            Phương pháp trình bầy trên đây có thể được ứng dụng giám sát các thời kỳ khu vực sông hồ trên đất liền và ở dải ven biển, đảm bảo tính khách quan, mang lại hiệu quả kinh tế. Một yêu cầu nghiêm ngặt của công nghệ là tính đồng bộ quan trắc lấy mẫu ngoài thực địa khi vệ tinh bay qua quét ảnh.
 

Tác giả bài viết: Nhóm tác giả Cục Viễn thám quốc gia

Nguồn tin: Cục Viễn thám quốc gia

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 
Chuyên mục Viễn thám
Quá trình phóng vệ tinh của NASA
Chiến dịch làm cho TG sạch hơn 2013

Liên kết WebSite

Thống kê truy cập

LOZA.VN Đang truy cập : 15


xsmb thu 2 Hôm nay : 600

giá xe mazda 2017 Tháng hiện tại : 23610

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1266503

Dong phuc Máy làm đá viên mini Máy làm đá tuyết Hải âu máy làm đá sạch